1. Chào Khách, Diễn đàn Kinh Tế Xây Dựng của chúng ta vừa mới hoạt động trở lại, chắc hẳn vẫn còn có nhiều thiếu sót, Khách nhớ đóng góp ý kiến để xây dựng diễn đàn ngày càng phát triển nhé!

Kiến thức chứng khóan

Thảo luận trong 'Thông tin khác' bắt đầu bởi DuLi.kx06, 18/06/09.

Mods: vantiep
  1. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến Thức Cơ Bản Về Hoạt Động Giao Dịch Chứng Khoán



    HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN



    1. Thời gian giao dịch
    Từ 8h30-11h00 vào tất cả các ngày làm việc trong tuần (trừ các ngày nghỉ theo qui định tại Bộ Luật Lao động).
    2. Giá tham chiếu

    a. Giá tham chiếu của cổ phiếu là bình quân gia quyền các giá thực hiện qua phương thức giao dịch báo giá của ngày có giao dịch gần nhất.

    b. Đối với các cổ phiếu mới niêm yết hoặc cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trong ngày đầu tiên giao dịch hoặc ngày giao dịch trở lại sẽ giao dịch không biên độ. Trong ngày giao dịch tiếp theo, giá tham chiếu của cổ phiếu này sẽ được tính như mục (a) ở trên.

    3. Biên độ dao động giá

    - Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu là ±10%.

    - Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu.

    4. Hiệu lực của lệnh

    Trong phiên giao dịch, lệnh giới hạn được nhập vào hệ thống giao dịch có hiệu lực cho đến hết phiên hoặc cho đến khi lệnh bị huỷ trên hệ thống.

    5. Nguyên tắc giao dịch

    Các giao dịch phải được thực hiện thông qua công ty chứng khoán thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội.

    - Trước tiên, để thực hiện giao dịch nhà đầu tư phải có tài khoản giao dịch chứng khoán tại một công ty chứng khoán là thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội.

    - Khi đặt lệnh mua bán chứng khoán, nhà đầu tư phải đảm bảo đủ tỉ lệ ký quỹ trên tài khoản. Cụ thể là, khi đặt lệnh bán thì nhà đầu tư phải có đủ số chứng khoán trong tài khoản, còn khi đặt lệnh mua thì nhà đầu tư phải có đủ số tiền kí quỹ theo thoả thuận với công ty chứng khoán.

    6. Phương thức giao dịch


    Giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận


    (Nguồn Công ty chứng khóan Gia Phát)
  2. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Phương thức giao dịch báo giá

    Tìm Hiểu Về Phương Thức Giao Dịch Báo Giá



    PHUƠNG THỨC GIAO DỊCH BÁO GIÁ



    1. Đơn vị yết giá

    + Đối với cổ phiếu:100 đồng.

    + Đối với trái phiếu: không quy định.

    2. Đơn vị giao dịch:


    100 cổ phiếu hoặc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tính theo mệnh giá trái phiếu.

    3. Khối lượng giao dịch tối thiểu:


    Không quy định

    4. Loại lệnh giao dịch:


    Lệnh giới hạn.

    5. Nguyên tắc thực hiện lệnh giao dịch báo giá

    - Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước

    - Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước.

    -Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thoả mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.

    - Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vị giao dịch.

    6. Trình tự giao dịch báo giá:

    - Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh (mua/bán) tại các công ty chứng khoán, đại diện giao dịch của công ty chứng khoán sẽ nhập các lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch tại TTGDCK Hà Nội.

    - Các lệnh đặt này được hiển thị trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của công ty chứng khoán.

    - Các lệnh nhập vào hệ thống sẽ được tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mức giá thoả mãn tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống. Tức là, nếu thoả mãn về giá thì các lệnh mua có mức giá cao nhất sẽ được khớp với các lệnh bán có mức giá thấp nhất. Mức giá thực hiện được xác định là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.

    - Nếu ở cùng một mức giá mà có nhiều lệnh mua/lệnh bán thì lệnh nào nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước.

    - Các lệnh có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ (nếu các lệnh đối ứng đáp ứng được toàn bộ khối lượng). Các lệnh chưa được thực hiện hoặc mới thực hiện một phần sẽ được lưu lại trên hệ thống để chờ thực hiện với các lệnh mới.

    - Kết quả giao dịch sẽ được hiển thị trực tuyến trên màn hình thông tin của các công ty chứng khoán.

    Kết thúc phiên giao dịch, TTGDCK Hà Nội sẽ xác nhận kết quả giao dịch với công ty chứng khoán thành viên và công ty chứng khoán thành viên thông báo cho khách hàng.

    7. Sửa lệnh giao dịch báo giá

    - Trong phiên giao dịch, các lệnh đã nhập vào hệ thống không được phép sửa, trừ trường hợp sửa giá và trường hợp đại diện giao dịch (sau đây viết tắt là ĐDGD) nhập sai so với lệnh gốc của khách hàng.

    - Trường hợp sửa giá theo yêu cầu của khách hàng, ĐDGD được tiến hành sửa lệnh ngay trên hệ thống.

    - Trường hợp nhập sai lệnh của khách hàng so với lệnh gốc, ĐDGD được phép sửa lệnh theo trình tự trong quy trình Sửa lệnh giao dịch báo giá. Trường hợp này sẽ tính vào lỗi của ĐDGD.

    - Việc sửa lệnh giao dịch báo giá chỉ được thực hiện đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh.

    8. Hủy lệnh giao dịch báo giá

    Trong phiên giao dịch, ĐDGD được thực hiện huỷ lệnh theo yêu cầu của khách hàng đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh.

    9. Hình thức thanh toán:


    Tất cả các giao dịch báo giá (gồm cả giao dịch cổ phiếu và giao dịch trái phiếu) được thanh toán theo hình thức thanh toán đa phương (T+3).



    (Theo Hướng Dẫn của Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội)
  3. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Tìm hiểu về phương thức giao dịch thỏa thuận

    Tìm Hiểu về Phương Thức Giao Dịch Thoả Thuận


    PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH THOẢ THUẬN

    1. Đơn vị yết giá:

    Không quy định.

    2. Đơn vị giao dịch:

    Không quy định

    3. Khối lượng giao dịch tối thiểu

    - Đối với cổ phiếu: 5.000 cổ phần.

    - Đối với trái phiếu: 100.000.000 đồng (100 triệu đồng) tính theo mệnh giá.

    4.Trình tự giao dịch thoả thuận

    + Trường hợp đã xác định được đối tác giao dịch:

    Nếu nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và đã hoàn tất thoả thuận giao dịch thì thông báo cho công ty chứng khoán về thoả thuận này, công ty chứng khoán sẽ thực hiện nhập lệnh giao dịch vào hệ thống của Trung tâm GDCK Hà Nội.

    + Trường hợp chưa xác định được đối tác giao dịch:

    * Khi có nhu cầu giao dịch, nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/lệnh bán tại CTCK.

    * Căn cứ vào lệnh của nhà đầu tư, công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh vào hệ thống giao dịch tại TTGDCK Hà Nội, ngay lập tức các lệnh đó sẽ được hiển thị trên sổ lệnh của thị trường.


    * Căn cứ vào thông tin trên sổ lệnh, các CTCK sẽ liên lạc với nhau để giúp nhà đầu tư tìm kiếm và thoả thuận với các đối tác giao dịch về mức giá và khối lượng giao dịch. Khi đạt được thoả thuận, CTCK sẽ thực hiện lệnh giao dịch cho nhà đầu tư.

    * Hệ thống giao dịch của TTGDCK Hà Nội sẽ nhận và xác nhận các lệnh giao dịch do công ty chứng khoán nhập vào và sẽ đưa ra kết quả giao dịch tổng hợp của toàn thị trường.


    * Kết quả giao dịch thỏa thuận sẽ được hiển thị ngay trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hình thông tin của CTCK.

    5. Sửa lệnh giao dịch thỏa thuận

    Trong giờ giao dịch, trường hợp phát hiện sai lệch so với lệnh gốc sau khi lệnh giao dịch thỏa thuận đã được xác nhận, ĐDGD được phép sửa lệnh giao dịch thỏa thuận theo Quy trình sửa lệnh giao dịch thỏa thuận.

    Thời gian sửa lệnh giao dịch thỏa thuận phải được hoàn tất chậm nhất là 15 phút trước khi phiên giao dịch kết thúc.

    6. Hình thức thanh toán:

    + Các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu hoặc nhỏ hơn 10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu: áp dụng hình thức thanh toán đa phương với chu kỳ T+3

    + Các giao dịch có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu hoặc 10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu thì được lựa chọn 1 trong 3 hình thức thanh toán:

    - Đa phương với chu kỳ thanh toán T+3

    - Song phương với chu kỳ thanh toán T+2

    - Trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1 đến T+3




    ( Theo Hướng Dẫn của Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội)
  4. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về giao dịch chứng khoán

    Kiến thức cơ bản về giao dịch chứng khoán



    Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở Giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập trung.
    I. MUA CHỨNG KHOÁN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
    Đối với loại chứng khoán này, bạn có thể thực hiện theo 2 hình thức:
    - Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý.
    - Mua thông qua trung gian: tức là mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các Ngân hàng thương mại.
    Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua và bạn cũng phải trực tiếp đến tổ chức phát hành (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.
    II. MUA BÁN CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT TRÊN TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
    Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua bán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Khi mua bán chứng khoán niêm yết, phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
    - Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại Sở Giao dịch, Trung tâm Giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thoả thuận;
    - Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian;
    - Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của Trung tâm Giao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thoả thuận về giá.

    Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán:
    Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo 5 bước:
    - Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán.
    - Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của Trung tâm.
    - Bước 3: Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán.
    - Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.
    - Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T +3.
    ( Nguồn Sở Giao Dịch Chứng khóan Hà Nội)
  5. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Tổng quan về thị trường chứng khóan

    Tổng quan về thị trường Chứng khoán



    Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
    Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau:
    1. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
    - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
    - Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
    - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
    - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
    - Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
    2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
    Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
    a) Nhà phát hành
    Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán.
    - Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương.
    - Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
    - Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
    b) Nhà đầu tư
    Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
    - Các nhà đầu tư cá nhân
    - Các nhà đầu tư có tổ chức
    c) Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
    - Công ty chứng khoán
    - Quỹ đầu tư chứng khoán
    - Các trung gian tài chính
    d) Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
    - Cơ quan quản lý Nhà nước
    - Sở giao dịch chứng khoán
    - Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
    - Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
    - Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
    - Các tổ chức tài trợ chứng khoán
    - Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm...
    3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
    Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
    - Nguyên tắc công khai
    - Nguyên tắc trung gian
    - Nguyên tắc đấu giá
    4. Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
    Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng... có kỳ hạn trên 1 năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
    a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
    Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.T
    • Thị trường sơ cấp
    Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
    • Thị trường thứ cấp
    Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
    b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
    Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
    c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
    Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
    • Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
    • Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
    • Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
    Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn...


    ( Nguồn : SGDCK Hà Nội)
  6. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về chỉ số P/E

    Kiến thức cơ bản về chỉ số P/E



    P/E là một chỉ số được các nhà đầu tư sử dụng rất phổ biến trong phân tích tài chính. Tất nhiên tỷ lệ này cũng có những hạn chế nhất định (chúng ta sẽ đề cập trong phần sau) nhưng nó có ưu điểm là dễ tính và dễ hiểu. Nếu bạn muốn biết thị trường sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đôla lợi nhuận của một công ty, chúng ta hãy xem xét P/E.
    P/E là một tỷ lệ phần trăm giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập trên một cổ phhiếu. Nếu giá một cổ phiếu cuả IBM là 60 đôla và thu nhập của mỗi cổ phiếu là 3 đôla thì tỷ lệ P/E sẽ là 20 (60/3). điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẵn sàng trả 20 đôla cho mỗi đôla lợi nhuận của công ty. Nếu P/E giảm xuống còn18 có nghĩa là nhà đầu tư chỉ trả 18 đôla cho mỗi đôla lợi nhuận.
    P/E truyền thống- tức là tỷ lệ P/E mà bạn vẫn thấy hàng ngày trên các tạp chí chứng khoán- còn gọi là P/E hiện tại. Để tính chỉ số này người ta lấy giá cổ phiếu chia cho lợi tức cổ phiếu của 12 tháng gần nhất.
    Bên cạnh đó các nhà đầu tư còn sử dụng tỷ lệ P/E tương lai bằng cách lấy giá cổ phiếu chia cho lợi tức cổ phiếu của năm sau do Phố Wall ước tính.
    Chỉ số nào tốt hơn? Tỷ lệ P/E truyền thống có ưu điểm là nó phản ánh tình hình thực tế của doanh nghiệp vì mẫu số ( E) là con số thực tế đã được kiểm toán và báo cáo cho Uỷ ban chứng khoán và hối đoái. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là lợi nhuận này chắc chắn sẽ thay đổi trong tương lai. Do đó, bằng cách ước tính lợi nhuận trong tương lai, chỉ số P/E tương lai dự đoán cả mức tăng trưởng của doanh nghiệp. Mặc dù con số ước tính này có thể không chính xác, ít nhất nó cũng giúp các nhà đầu tư có cơ sở để tham khảo ra quyết định đầu tư.
    Giả sử bạn có cổ phiếu của 2 công ty hoạt động trong cùng một ngành - ví dụ Exxon và Texaco - cùng có tỷ lệ P/E là 20. Giá cổ phiếu của Exon là 60 đôla và thu nhập là 3 đôla trong khi giá cổ phiếu của Texaco là 80 đôla và thu nhập là 4 đôla. Dường như 2 quyết định đầu tư này là như nhau nếu bạn không xem xét tới tỷ lệ P/E tương lai.
    Phố Wall ước tính thu nhập của Exon sẽ tăng tới 3,75 đôla một cổ phiếu (tức 25%) còn cổ phiếu của Texaco chỉ tăng tới 4,25 đôla( 6%). Trong trường hợp đó chỉ số P/E tương lai của Exon giảm xuống còn 16 trong khi đó chỉ số P/E tương lai của Texaco là 18,8. Nếu dự đoán này là đúng thì hiển nhiên mua cổ phiếu của Exxon sẽ có lợi hơn.
    Nhược điểm lớn nhất của cả 2 chỉ số này là đôi khi các công ty che giấu thu nhập của họ bằng cách công bố lãi nhiều hơn thực tế. Một kế toán viên có thể đưa ra những con số khống và khai tăng tỷ lệ tăng trưởng thu nhập lên một vài điểm
    Một thực tế nữa là thu nhập ước tính có thể thay đổi tuỳ theo tình hình phát triển của công ty và tuỳ theo mỗi nhà phân tích Phố Wall. Vì vậy, mặc dù được các nhà đầu tư sử dụng phổ biến nhưng tỷ lệ P/E cũng chỉ là một chỉ số để tham khảo mà thôi.


    (Nguồn : Trung Tâm GD CK Hà Nội)
  7. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về định giá trị thực của cổ phiếu

    Kiến thức cơ bản về định giá trị thực của cổ phiếu



    Hiện tại các nhà phân tích chứng khoán tại Việt Nam và trên thế giới dùng khá nhiều phương pháp để tính và dự đoán giá CP, sau đây là 3 phương pháp có thể áp dụng được trong điều kiện hiện tại của TTCK Việt Nam.
    Ngoài ra, để đơn giản hoá vấn đề, chúng ta sẽ lấy giá cao nhất trong các giá CP tính theo các phương pháp trên làm giá trị thực của CP được phân tích.
    Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)
    Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là "tiền có giá trị theo thời gian”, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác, do đó, giá trị của ND được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó.
    Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp. Hiện nay, việc áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận bởi giá CP tính theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của nhà đầu tư thì, ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN.
    Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng công thức này có một số khó khăn làm cho việc ước tính nguồn thu trong tương lai của các công ty khó có thể chính xác như: Tình hình môi trường kinh doanh có nhiều biến động; Các ND Việt Nam trong đó có các công ty đang niêm yết đều chưa quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt là còn xa lạ với việc dự báo chi tiết luồng tiền dài hạn ra, vào công ty... Do đó, chúng ta sẽ điều chỉnh lại công thức này theo hướng 5 năm và cộng giá trị tài sản ròng được tính vào thời điểm niêm yết.
    Công thức được điều chỉnh sẽ là:
    P = Po + E1/(1+r) + E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5
    Định giá CP phổ thông theo phương pháp hệ số P/E
    Đây là phương pháp cũng được áp dụng phổ biến ở các TTCK đã phát triển. Hệ số P/E là hệ số giữa giá CP (thị giá) và thu nhập hàng năm của một CP đem lại cho người nắm giữ. Thông thường, để dự tính giá của một loại CP, người ta thường dùng thu nhập trên mỗi CP của công ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về qui mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường. Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá CP tại Việt nam còn gặp phải nhiều khó khăn do thiếu số liệu và TTCK chưa phát triển.
    Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một CP của công ty sẽ tăng nhanh. Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao công ty đó hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty. Khi tất cả các CP trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường như đã từng thấy ở các nước phát triển.
    Định giá cổ phiếu dựa trên cơ sở tài sản ròng có điều chỉnh
    Quan điểm chung của phương pháp này cho rằng, một công ty có giá trị không kém hơn tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng của nó trừ đi các khoản nợ của nó. Tài sản riêng ở đây được hiểu bao gồm cả những giá trị lợi thế của công ty. Giá CP của công ty có thể được tính theo phương pháp tổng quát sau:
    Giá CP = (Giá trị TS ròng + Giá trị lợi thế)/Tổng số CP định phát hành
    Phương pháp này thường được sử dụng để tính toán giá tham chiếu và so sánh. ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng phổ biến cho các DN Nhà nước thực hiện CPH. Tuy nhiên, giá trị tài sản ròng của công ty dù được định giá chính xác đến đâu cũng chỉ thể hiện giá trị thanh lý của công ty, trong khi đó đối với người đầu tư mua CP thì tương lai của công ty mới là điều đáng quan tâm hơn cả. Trong các DN CPH ở Việt Nam có nhiều loại tài sản mà chúng ta không xác định được giá do không có thị trường cho các loại tài sản này, nhưng có một loại tài sản mà ai cũng thấy rõ là đang góp phần khiến cho các DN Nhà nước CPH được định giá thấp là giá trị quyền sử dụng đất.
    Quan sát cho thấy, việc quyền sử dụng đất trong các DN Nhà nước CPH được định giá thấp hơn giá cả trên thị trường nhà đất từ 4 đến 5 lần không phải là hiện tượng cá biệt. Hơn thế nữa, trong nhiều DN, quyền sử dụng đất là một tài sản có giá trị cao nhất, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công ty. Chúng ta sẽ dựa trên một số số liệu về cổ phần hoá, tính những thiếu hụt trong quá trình định giá của các DN Nhà nước cổ phần bằng cách nhân tổng giá trị tài sản ròng của công ty lên 2 lần. Dựa trên các phương pháp được giới thiệu trên và chỉ sử dụng một cách máy móc những con số ghi trên trên báo cáo tài chính năm 1999 và 2000 được công bố của các công ty niêm yết, các bạn có thể tự tính toán được giá trị CP của các công ty theo bảng dưới đây. Tuy nhiên, theo những tính toán nêu trên thì giá CP vẫn chưa thể hiện được hoàn toàn về các giá trị thực của công ty mà nó phản ánh. Để có thể hiểu được một cách rõ nét và toàn diện hơn, chúng ta cần phải đi sâu vào phân tích những yếu tố phi định lượng khác nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến những kết quả tính toán nêu trên.
    Những yếu tố mà bạn cần phải tính đến khi phân tích và tính giá CP của một công ty bao gồm:
    - Độ tin cậy của số liệu
    - Mức độ rủi ro trong hoạt động của công ty bao gồm cả những yếu tố như tình hình thị trường và triển vọng của công ty (điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thời hạn hoạt động cuả công ty, hệ số chiết khấu trong công thức tính DCF);
    - Những yếu tố liên quan đến tài sản vô hình của công ty như trình độ quản lý của ban giám đốc, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương mại, chất lượng sản phẩm được thể hiện theo các tiêu chuẩn ISO...

    (Nguồn TT GDCK Hà Nội)
  8. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về các chỉ số tài chính

    Kiến thức cơ bản về các chỉ số tài chính



    Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư.

    Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

    Hệ số tổng lợi nhuận= (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số bán

    Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

    Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

    Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

    Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

    Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.

    Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.

    Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

    ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

    Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

    Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

    ROI= (Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).

    Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

    Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

    P/E = PM/EPS

    Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

    Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.




    Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư.

    Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

    Hệ số tổng lợi nhuận= (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số bán

    Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

    Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

    Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

    Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

    Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.

    Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.

    Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

    ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

    Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

    Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

    ROI= (Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).

    Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

    Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

    P/E = PM/EPS

    Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

    Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.

    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  9. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về quy trình đặt lệnh

    Kiến thức cơ bản về quy trình đặt lệnh



    Đặt lệnh mua hay bán chứng khoán
    Nhà đầu tư muốn mua hoặc muốn bán sẽ đến gặp công ty chứng khoán.
    Khách hàng ký hợp đồng uỷ thác mua hoặc uỷ thác bán chứng khoán với công ty chứng khoán.
    Khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán với phòng tiếp thị bằng phiếu lệnh. Nội dung chi tiết của lệnh gồm có:
    a. Lệnh mua hay lệnh bán;
    b. Tên chứng khoán - mã số chứng khoán;
    c. Số lượng chứng khoán;
    d. Giá;
    e. Điều kiện về thời gian đáo hạn của trái phiếu (nếu có).
    Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của phiếu lệnh, Phòng tiếp thị công ty chứng khoán chuyển giao phiếu lệnh cho phòng giao dịch, đồng thời thông báo cho phòng thanh toán bù trừ.
    Cùng lúc này, một nghiệp vụ rất quan trọng là phòng giao dịch + phòng thanh toán + công ty chứng khoán phải tiến hành kiểm tra tài khoản của khách hàng. Luật quy định khách mua phải có đủ tiền 100% trong tài khoản giao dịch và khách bán phải có đủ 100% chứng khoán.
    Công ty kiểm tra lần cuối tính hợp lệ của lệnh mua - lệnh bán. Phòng giao dịch chuyển lệnh qua máy cho đại diện giao dịch tại TTGDCK.
    Giao dịch tại TTGDCK
    Đại diện giao dịch nạp lệnh mua - bán vào hệ thống máy điện tử của TTGDCK, gọi tắt là hệ thống giao dịch chi tiết nạp vào hệ thống gồm các khoản a, b, c, d, e (cả mục 3 nói trên) cùng với các chi tiết kế tiếp sau đây:
    f: Số hiệu của lệnh giao dịch;
    g. Lệnh sửa đổi hoặc huỷ bỏ (kèm số hiệu của lệnh gốc);
    h. Giao dịch cho khách hàng giao dịch tự doanh;
    i. Mã số quản lý đầu tư nước ngoài (nếu là người đầu tư nước ngoài);
    k. Mã số của thành viên;
    l. (Các chi tiết khác do TTGDCK quy định).
    Nếu có sửa đổi hay huỷ bỏ lệnh theo ý kiến khách hàng thì đại diện giao dịch nhập lại lệnh mới kèm số hiệu lệnh gốc. Lệnh mới (sửa đổi/huỷ bỏ) chỉ hiệu lực khi lệnh gốc chưa được thực hiện.
    TTGDCK sau mỗi đợt khớp lệnh lúc 9 - 10 - 11 giờ sẽ thông báo kết quả cho lệnh được khớp đến đại diện giao dịch và cho công ty chứng khoán (chi tiết kết quả khớp lệnh).
    Đại diện giao dịch nhận thông báo của TTGDCK lập tức báo cho phòng giao dịch của công ty tất cả chi tiết liên quan đến lệnh.
    Phòng giao dịch ghi "đã mua hoặc đã bán" vào phiếu lệnh của khách hàng và thông báo cho phòng thanh toán.
    TTGDCK xác nhận với đại diện giao dịch về kết quả giao dịch sau khớp lệnh. Chi tiết xác nhận gồm có:
    1. Tên chứng khoán;
    2. Khối lượng mua và bán;
    3. Tên (mã số) của bên thành viên đối tác;
    4. Ngày, thời gian giao dịch được thực hiện ;
    5. Số hiệu của lệnh được thực hiện;
    6. Các chi tiết cần thiết khác theo quy định của TTGDCK.
    Kết thúc phiên giao dịch
    Phòng giao dịch tổng hợp kết quả giao dịch trong ngày và chuyển đến phòng thanh toán kèm phiếu lệnh đã được thực hiện.
    Phòng thanh toán lập báo cáo thanh toán và bù trừ về chứng khoán và tiền vốn chuyển cho phòng lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán (của TTGDCK).
    Phòng lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán so khớp số liệu và thực hiện thủ tục thanh toán, đồng thời gởi thông báo cho ngân hàng thanh toán của hai bên đối tác mua - bán để thanh toán vốn đã giao dịch.
    Các công ty và ngân hàng thanh toán vốn (ngân hàng hoạt động lưu ký) thực hiện tác nghiệp về thanh toán vốn.
    Trong trường hợp công ty chứng khoán chưa kịp thanh toán trong thời hạn quy định, TTGDCK sẽ dùng quỹ hỗ trợ thanh toán thực hiện thay cho công ty chứng khoán (sau đó tính lãi, phạt và các hình thức chế tài khác đối với công ty chứng khoán - quy định tại các điều 61 - 62 của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán ban hành theo Qđ số 05/UBCKNN ngày 27/3/99 của UBCKNN).

    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  10. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Phát hành chứng khoán

    PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN



    1. Khái niệm về phát hành chứng khoán
    Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này.
    2. Phương thức phát hành chứng khoán
    Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
    2.1. Phát hành riêng lẻ (Private Placement)
    Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
    2.2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
    Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
    2.3. Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
    Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
    Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp.
    3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán
    3.1. Khái niệm
    Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
    Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng.
    3.2. Các phương thức bảo lãnh phát hành
    Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
    • Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) [1] và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
    • Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất.
    • Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
    • Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.
    • Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.
    ( Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  11. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Niêm yết chứng khoán

    NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN

    Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán). Hay nói cách khác, để có thể được niêm yết tại một Sở giao dịch chứng khoán nào đó thì công ty xin niêm yết phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn do Sở đó đặt ra. Mỗi Sở giao dịch chứng khoán có những điều kiện đặt ra khác nhau để đảm bảo cho sự hoạt động an toàn đồng thời phù hợp với mục đích hoạt động của Sở giao dịch đó.
    Tài liệu này được chuẩn bị căn cứ vào :

    3. Hướng dẫn của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước
    4. Trung tâm Nghiên Cứu Khoa Học & Đầu Tư Chứng Khoán


    Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
    Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán. Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản sau:
    1. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán
    - Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
    - Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
    - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
    - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
    - Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
    2. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
    Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
    a) Nhà phát hành
    Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán.
    - Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương.
    - Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
    - Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
    b) Nhà đầu tư
    Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
    - Các nhà đầu tư cá nhân
    - Các nhà đầu tư có tổ chức
    c) Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
    - Công ty chứng khoán
    - Quỹ đầu tư chứng khoán
    - Các trung gian tài chính
    d) Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
    - Cơ quan quản lý Nhà nước
    - Sở giao dịch chứng khoán
    - Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
    - Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
    - Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
    - Các tổ chức tài trợ chứng khoán
    - Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm...
    3. Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
    Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:
    - Nguyên tắc công khai
    - Nguyên tắc trung gian
    - Nguyên tắc đấu giá
    4. Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
    Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng... có kỳ hạn trên 1 năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:
    a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
    Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.T
    • Thị trường sơ cấp
    Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
    • Thị trường thứ cấp
    Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.
    b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
    Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC).
    c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
    Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
    • Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
    • Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
    • Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
    Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn...
    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  12. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về định giá trị thực của cổ phiếu

    Kiến thức cơ bản về định giá trị thực của cổ phiếu



    Hiện tại các nhà phân tích chứng khoán tại Việt Nam và trên thế giới dùng khá nhiều phương pháp để tính và dự đoán giá CP, sau đây là 3 phương pháp có thể áp dụng được trong điều kiện hiện tại của TTCK Việt Nam.
    Ngoài ra, để đơn giản hoá vấn đề, chúng ta sẽ lấy giá cao nhất trong các giá CP tính theo các phương pháp trên làm giá trị thực của CP được phân tích.
    Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)
    Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là "tiền có giá trị theo thời gian”, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác, do đó, giá trị của ND được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó.
    Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp. Hiện nay, việc áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận bởi giá CP tính theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của nhà đầu tư thì, ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN.
    Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng công thức này có một số khó khăn làm cho việc ước tính nguồn thu trong tương lai của các công ty khó có thể chính xác như: Tình hình môi trường kinh doanh có nhiều biến động; Các ND Việt Nam trong đó có các công ty đang niêm yết đều chưa quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt là còn xa lạ với việc dự báo chi tiết luồng tiền dài hạn ra, vào công ty... Do đó, chúng ta sẽ điều chỉnh lại công thức này theo hướng 5 năm và cộng giá trị tài sản ròng được tính vào thời điểm niêm yết.
    Công thức được điều chỉnh sẽ là:
    P = Po + E1/(1+r) + E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5
    Định giá CP phổ thông theo phương pháp hệ số P/E
    Đây là phương pháp cũng được áp dụng phổ biến ở các TTCK đã phát triển. Hệ số P/E là hệ số giữa giá CP (thị giá) và thu nhập hàng năm của một CP đem lại cho người nắm giữ. Thông thường, để dự tính giá của một loại CP, người ta thường dùng thu nhập trên mỗi CP của công ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về qui mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường. Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá CP tại Việt nam còn gặp phải nhiều khó khăn do thiếu số liệu và TTCK chưa phát triển.
    Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một CP của công ty sẽ tăng nhanh. Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao công ty đó hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty. Khi tất cả các CP trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường như đã từng thấy ở các nước phát triển.
    Định giá cổ phiếu dựa trên cơ sở tài sản ròng có điều chỉnh
    Quan điểm chung của phương pháp này cho rằng, một công ty có giá trị không kém hơn tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng của nó trừ đi các khoản nợ của nó. Tài sản riêng ở đây được hiểu bao gồm cả những giá trị lợi thế của công ty. Giá CP của công ty có thể được tính theo phương pháp tổng quát sau:
    Giá CP = (Giá trị TS ròng + Giá trị lợi thế)/Tổng số CP định phát hành
    Phương pháp này thường được sử dụng để tính toán giá tham chiếu và so sánh. ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng phổ biến cho các DN Nhà nước thực hiện CPH. Tuy nhiên, giá trị tài sản ròng của công ty dù được định giá chính xác đến đâu cũng chỉ thể hiện giá trị thanh lý của công ty, trong khi đó đối với người đầu tư mua CP thì tương lai của công ty mới là điều đáng quan tâm hơn cả. Trong các DN CPH ở Việt Nam có nhiều loại tài sản mà chúng ta không xác định được giá do không có thị trường cho các loại tài sản này, nhưng có một loại tài sản mà ai cũng thấy rõ là đang góp phần khiến cho các DN Nhà nước CPH được định giá thấp là giá trị quyền sử dụng đất.
    Quan sát cho thấy, việc quyền sử dụng đất trong các DN Nhà nước CPH được định giá thấp hơn giá cả trên thị trường nhà đất từ 4 đến 5 lần không phải là hiện tượng cá biệt. Hơn thế nữa, trong nhiều DN, quyền sử dụng đất là một tài sản có giá trị cao nhất, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công ty. Chúng ta sẽ dựa trên một số số liệu về cổ phần hoá, tính những thiếu hụt trong quá trình định giá của các DN Nhà nước cổ phần bằng cách nhân tổng giá trị tài sản ròng của công ty lên 2 lần. Dựa trên các phương pháp được giới thiệu trên và chỉ sử dụng một cách máy móc những con số ghi trên trên báo cáo tài chính năm 1999 và 2000 được công bố của các công ty niêm yết, các bạn có thể tự tính toán được giá trị CP của các công ty theo bảng dưới đây. Tuy nhiên, theo những tính toán nêu trên thì giá CP vẫn chưa thể hiện được hoàn toàn về các giá trị thực của công ty mà nó phản ánh. Để có thể hiểu được một cách rõ nét và toàn diện hơn, chúng ta cần phải đi sâu vào phân tích những yếu tố phi định lượng khác nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến những kết quả tính toán nêu trên.
    Những yếu tố mà bạn cần phải tính đến khi phân tích và tính giá CP của một công ty bao gồm:
    - Độ tin cậy của số liệu
    - Mức độ rủi ro trong hoạt động của công ty bao gồm cả những yếu tố như tình hình thị trường và triển vọng của công ty (điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thời hạn hoạt động cuả công ty, hệ số chiết khấu trong công thức tính DCF);
    - Những yếu tố liên quan đến tài sản vô hình của công ty như trình độ quản lý của ban giám đốc, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương mại, chất lượng sản phẩm được thể hiện theo các tiêu chuẩn ISO...

    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  13. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về quyền mua cổ phiếu

    Kiến thức cơ bản về quyền mua cổ phiếu

    Quyền mua cổ phiếu (CP) cho phép người nắm giữ có quyền (nhưng không phải là nghĩa vụ) được mua một số lượng CP xác định trước với một giá đã xác định trước và thấp hơn giá hiện hành của CP đó trên thị trường.

    Quyền mua được dành cho các cổ đông của tổ chức phát hành muốn phát hành bổ sung CP. Thông thường, cứ ứng với một CP đang nắm giữ, cổ đông sẽ có được một quyền mua tương ứng. Quyền mua có giá trị tách biệt và có thể được giao dịch trên thị trường thứ cấp trong khoảng thời gian trước khi quyền mua được thực hiện. Chỉ những người đang nắm quyền mua mới mua được CP phát hành bổ sung với giá thấp hơn giá thị trường, những người không giữ quyền mua thì hoặc không thể mua được CP đó hoặc phải mua CP đó với giá hiện hành trên thị trường. Quyền mua mà công ty đưa ra cho các cổ đông là đặc quyền ngắn hạn (thông thường từ 30 - 45 ngày) và chỉ được dành cho mỗi CP thường mà cổ đông sở hữu.

    Quyền mua CP được giao dịch trên thị trường trong thời hạn hiệu lực của CP đó và những cổ đông không có ý định thực hiện quyền mua có thể tách quyền mua để bán riêng. Số quyền mua cần có để mua 1 CP mới sẽ được căn cứ vào số lượng CP hiện hành và số lượng CP mới được chào bán. Ví dụ, Công ty A có 5 triệu CP đang lưu hành và muốn phát hành thêm 1 triệu CP nữa, khi đó mỗi một CP hiện hữu sẽ được trao 1 quyền, như vậy sẽ có 5 triệu quyền mua được phát hành. Những quyền này chỉ mang đến cho cổ đông 1 triệu CP mới, vì vậy 5 triệu quyền chia cho 1 triệu CP mới, nghĩa là cứ có 5 quyền mua sẽ được mua 1 CP mới.

    Thực hiện quyền mua như thế nào?

    Khi nhận được thông báo phân phối quyền mua và chứng nhận quyền mua từ tổ chức phát hành, các cổ đông nhận quyền mua có thể theo một trong 3 cách:

    1. Thực hiện quyền mua: Điền vào mẫu đăng ký mua CP mới và gửi kèm chứng nhận quyền mua cùng với tiền mua CP đến đại lý bảo lãnh phát hành CP mới (trường hợp tổ chức phát hành có đại lý bảo lãnh phát hành CP). Như vậy, cổ đông có thể duy trì được tỷ lệ lợi ích trong công ty.

    2. Bán quyền mua: Vì chứng chỉ quyền mua là chứng khoán giao dịch được nên cổ đông có thể bán quyền mua trên thị trường thứ cấp và thu lãi từ giá thị trường (mặc dù bằng cách bán quyền, cổ đông đã từ bỏ bất kỳ lợi nhuận tiềm năng có thể có từ việc thực hiện quyền và sở hữu CP).

    3. Không thực hiện quyền mua: Khách hàng có thể không thực hiện quyền mua cho tới khi quyền mua hết hiệu lực và họ cũng bị mất nhiều quyền lợi do bị giảm tỷ lệ sở hữu trong công ty.

    Thủ tục thực hiện quyền mua

    1. Trường hợp phân bổ quyền mua cho cổ đông hiện hữu: Khi quyết định phát hành bổ sung CP mới, Ban giám đốc phải thông báo cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và kèm theo lịch trình phát hành và bản tóm tắt nội dung quyết định của Ban giám đốc, hồ sơ đăng ký phát hành bổ sung... Sau khi được UBCKNN chấp thuận, Ban giám đốc sẽ thông báo việc phát hành CP bổ sung và thời hạn đăng ký mua cho các cổ đông.

    2. Trường hợp phân bổ quyền mua cho bên thứ ba: Cũng giống như trường hợp trên nhưng đơn giản hơn nhiều. Cụ thể là không cần đệ trình hồ sơ đăng ký phát hành bổ sung và báo cáo sau phát hành cho UBCKNN, không cần chốt sổ cổ đông. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hữu, CP bổ sung thường được phát hành với giá cao hơn giá thị trường hiện hành của CP đó. Đại lý bảo lãnh phát hành CP mới bổ sung cũng có thể đồng thời làm luôn công việc trợ giúp thực hiện quyền mua, tức là giúp tổ chức phát hành lưu giữ danh sách người sở hữu quyền mua và khi quyền mua được bán thì đại lý bảo lãnh giúp ghi lại tên chủ sở hữu mới của quyền mua. Phí dịch vụ của bên bảo lãnh phát hành sẽ do 2 bên thỏa thuận với nhau, thường thì bên bảo lãnh sẽ nhận được khoảng 3% trên tổng giá trị số CP phát hành bổ sung. Ngoài ra, nếu lượng CP không bán hết thì bên bảo lãnh phát hành sẽ phải mua lại tất cả số CP đó nhưng với một mức giá thỏa thuận trước, thường là khoảng 97% của giá CP chào bán.

    Giá trị của quyền mua

    Từ lúc quyền mua CP được công bố cho đến khi được phát hành thì CP đó chỉ có giá trị trên lý thuyết. Giá trị này là số thu được của nhà đầu tư khi thực hiện quyền mua CP bổ sung với giá thấp hơn giá thị trường. Ví dụ sau giúp xác định được giá trị quyền mua như thế nào: Công ty A chào bán quyền mua cho cổ đông, giá thị trường CP A là 40 USD. Theo quy định quyền mua, cứ ứng với mỗi 5 quyền mua (ứng với 5 CP hiện có) sẽ được mua 1 CP mới với giá 25 USD. Khi đó, để có 5 quyền mua, nhà đầu tư phải mua 5 CP với giá 5 x 40 USD = 200 USD. Với 5 quyền mua vừa có được, nhà đầu tư sẽ mua được 1 CP mới với giá 25 USD. Như vậy, nhà đầu tư có tất cả 6 CP (6 CP này đều không còn quyền mua kèm theo) với tổng số tiền bỏ ra là 225 USD. Như vậy, giá mới của mỗi CP là 225 USD/6 = 37,5 USD. Khi đó, giá 1 quyền mua là (40 USD - 37,5 USD) = 2,5 USD.

    Ngày giao dịch CP không có quyền mua kèm theo

    Trong ngày giao dịch không có quyền mua, giá CP sẽ rớt xuống một mức giá trị chính bằng giá trị của quyền mua. Tại Việt Nam, nếu tổ chức phát hành có phát hành bổ sung CP mới thì giá CP trên thị trường sẽ được điều chỉnh ngay theo mức giá mới của CP (cổ đông hiện hữu vẫn không bị thiệt vì phần giá trị CP cũ mất đi cũng chính bằng giá trị của quyền mua mà họ đã nhận được trước đó). Trường hợp có một số CP không còn quyền (do cổ đông nắm giữ CP đó đã tách quyền mua ra để bán riêng trên thị trường) thì số CP này cũng vẫn được giao dịch bình thường trên thị trường, nhưng sau đó khi thực hiện thủ tục thanh toán bù trừ thì bộ phận thanh toán bù trừ chứng khoán sẽ trừ lại của người bán CP đó một khoản tiền đúng bằng giá trị của quyền mua mà họ đã tách ra để bán riêng trên thị trường chứng khoán.

    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  14. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Kiến thức cơ bản về các chỉ số tài chính

    Kiến thức cơ bản về các chỉ số tài chính



    Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp: hệ số tổng lợi nhuận; hệ số lợi nhuận hoạt động; hệ số lợi nhuận ròng; hệ số thu nhập trên vốn cổ phần; và hệ số thu nhập trên đầu tư.

    Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp.

    Hệ số tổng lợi nhuận= (Doanh số-Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua) / Doanh số bán

    Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

    Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Mức lãi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi ( EBIT)/doanh thu

    Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

    Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

    Hệ số lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu.

    Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn thì sẽ có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn.

    Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

    ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

    Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

    Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

    ROI= (Thu nhập ròng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).

    Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

    Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

    P/E = PM/EPS

    Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

    Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.
    (Nguồn TTGDCK Hà Nội)
  15. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Lo ngại về đòn bẩy tài chính
    13/06/2009 09:23:07

    (ĐTCK) Hôm qua, hạn mức cầm cố chứng khoán của một CTCK có quy mô 2.500 tài khoản đã hết do lượng nhà đầu tư đăng ký cầm cố tăng lên. Tại công ty này, rất nhiều khách hàng lớn nhỏ sử dụng đòn bẩy tài chính bằng cách cầm cố chứng khoán để có thêm vốn lướt sóng trên thị trường.

    Ở một số CTCK khác, dù lãi suất cầm cố cổ phiếu niêm yết, vay cổ phiếu chưa về tài khoản tăng lên, nhưng nhu cầu vay vốn của khách hàng không hề giảm.

    Đại diện một quỹ đầu tư tỏ ra lo ngại, nếu nhà đầu tư lạm dụng đòn bẩy tài chính thì áp lực bán ra sau đợt tăng của thị trường lần này sẽ rất lớn. Bởi lẽ, một trong những yếu tố thúc đẩy thị trường là triển vọng lợi nhuận khả quan của nhiều doanh nghiệp trong quý II, nhưng yếu tố này về cơ bản đã phản ánh hết vào giá cổ phiếu.

    Trong số dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán hiện nay, đáng ngại nhất vẫn là vốn vay ngân hàng. Khó có một con số chính xác về dư nợ cho vay cầm cố chứng khoán, nhưng chắc chắn dòng vốn này đã góp phần làm cho thị trường tăng nóng.

    Tuy nhiên, nguồn vốn này chưa đến mức tạo ra những rủi ro hệ thống, bởi ghi nhận từ một số CTCK cho thấy, lượng tiền từ các tài khoản mới mở không hề nhỏ.

    Theo CTCK VNDirect, mặc dù thị trường đã có đợt tăng giá khá dài, nhưng dòng tiền vẫn chưa có dấu hiệu thoát ra. Trái lại, lượng tiền mới đổ vào tài khoản vẫn khá tốt và thị trường xuất hiện nhiều thành phần tham gia mới.

    Tại TP. HCM, giới đầu tư phỏng đoán, khoảng 17.000 tỷ đồng được dùng để đền bù giải tỏa đất cho dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, phần lớn người nhận tiền đền bù này không phải dân địa phương, mà là nhà đầu tư đất ở Quận 1 và Quận 3. Vì thế, tiền đền bù này không chảy vào thị trường nhà đất như dự báo ban đầu, mà có thể chảy vào chứng khoán.

    Bên cạnh đó, giới đầu tư cho rằng, tiền bán vàng trong dân và tiền của các quỹ đầu tư, CTCK đứng ngoài thị trường thời gian qua đang chịu áp lực giải ngân vào chứng khoán.

    Chính vì vậy, dù có một chút lo ngại về sự ổn định của dòng tiền chảy vào thị trường, trong đó có dòng tiền nóng là vốn vay ngân hàng, nhưng nhiều nhà đầu tư vẫn tỏ ra lạc quan về sức cầu.

    Tuy nhiên, nhìn về dài hạn, do lượng tiền đổ vào thị trường lớn nên việc lượng vốn vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán cần được kiểm soát chặt chẽ để bong bóng không có cơ hội phình to và xì hơi.




    Thu Hương
  16. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Index “sốt nóng” cùng dòng tiền đầu cơ
    11/06/2009 10:10:35
    (ĐTCK) Hôm qua (9/6), giá trị giao dịch trên sàn TP. HCM đạt mức kỷ lục, hơn 2.848 tỷ đồng. VN-Index vẫn tăng điểm, cho dù có nhiều cảnh báo về mức độ nóng của thị trường. Tâm lý hoảng sợ đã không xuất hiện, điều thường xảy ra trong các lần điều chỉnh trước của thị trường. Quan sát diễn biến giao dịch cho thấy, có dấu hiệu chốt lời ở một số mã cổ phiếu tăng giá liên tiếp trong tuần qua, nhưng có một lực mua ập vào ở mức giá thấp khiến giá trị giao dịch của thị trường vẫn giữ ở mức cao.

    Ông Phạm Đỗ Chí, Kinh tế gia trưởng của VinaCapital nhận xét: "Thị trường có người bán ra, có người mua vào như hiện nay là rất tốt. Tính thanh khoản cao là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư tổ chức cả trong và ngoài nước".

    Một cuộc khảo sát bỏ túi của phóng viên ĐTCK đối với một số nhà đầu tư tổ chức và cá nhân vốn lớn cho thấy, họ vừa bán ra chốt lời một số mã mà lực tăng đã yếu và mua vào một vài mã khác có tiềm năng mà họ không thể chen mua trong những phiên thị trường tăng nóng trước đó. Những cổ phiếu còn trong tài khoản, họ sẽ giữ chờ cơ hội hiện thực hóa lợi nhuận. Nhưng việc bán ra không có nghĩa là bán tất tay để chạy, mà bán dần 20 - 30 hay 50%, song song với việc mua vào để cơ cấu lại danh mục.

    Về xu hướng thị trường sắp tới, nhiều ý kiến cho rằng, sẽ có một vài phiên điều chỉnh, nhưng sau đó sẽ bắt đầu một đợt tăng mới, bởi dòng tiền đổ vào thị trường rất lớn. Ngoài luồng tiền từ thị trường vàng đẩy sang “đánh” ngắn hạn, một dòng tiền khác đến từ các quỹ đầu cơ nước ngoài đổ vào Việt Nam thông qua các tổ chức đầu tư trong nước để né giới hạn về room. Dòng tiền này rất khó kiểm soát và khó ghi nhận, nhưng theo đại diện của một quỹ đầu tư nước ngoài, những nhà đầu tư chuyên nghiệp nhận thấy dấu hiệu của dòng tiền này vào thị trường Việt Nam.

    Theo ông Nguyễn Thế Lữ, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ SAM, nhà đầu tư nước ngoài quan tâm trở lại TTCK Việt Nam do tâm lý họ đã ổn định và kỳ vọng thị trường Việt Nam tăng mạnh hơn một số thị trường khác trong khu vực. Thực tế, một số quỹ đầu tư đã sớm tham gia thị trường và đạt được lợi nhuận cao. Chẳng hạn như Quỹ VOF do VinaCapital quản lý, giá trị tài sản ròng của Quỹ đã tăng 120% chỉ sau vài tháng. Quỹ VEH, quỹ đầu tư cổ phiếu của Công ty Quản lý quỹ SAM tăng 55% từ đầu năm đến nay.

    Một yếu tố khác có ảnh hưởng tích cực đến TTCK trong tháng 6 là các quỹ đầu tư nước ngoài mong muốn báo cáo quý II đẹp hơn nên sẽ gia tăng nắm giữ các cổ phiếu có yếu tố cơ bản tốt. Trong đợt tăng điểm vừa qua, không ít quỹ đầu tư nước ngoài bỏ lỡ cơ hội nên nhiều khả năng họ sẽ sớm tham gia để chứng tỏ với cổ đông rằng, mình đã không quá chậm chân trong đợt hồi phục này của thị trường.

    Ngoài ra, điểm nhấn quan trọng là báo cáo tài chính quý II của nhiều công ty niêm yết, nhất là công ty lỗ do trích lập dự phòng đầu tư tài chính sẽ đẹp hơn nhờ bán đi các khoản đầu tư và hoàn nhập dự phòng. Đây sẽ là thông tin hỗ trợ tích cực cho tâm lý thị trường.

    Trong các dòng tiền chảy vào thị trường, được "soi" kỹ nhất là vốn ngân hàng dành cho cầm cố chứng khoán. Theo số liệu mới nhất, dư nợ cho vay cầm cố chứng khoán hiện là 7.000 tỷ đồng. Trường hợp dòng vốn này bị rút ra thì đây cũng không phải là sức ép quá lớn với TTCK hiện nay.

    Index đang sốt nóng cùng dòng tiền đầu cơ và cơn sốt này đang khiến nhiều người vui đến mức quên luôn những bài học quá khứ và vượt qua mọi “rào cản kỹ thuật” để gia nhập thị trường này.




    Thành Nam
  17. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Một cách thoái vốn bất thường?
    06/10/2009 10:08:00

    Việc công bố thông tin giao dịch của cổ đông nội có khả năng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu - Ảnh minh họa: Đức Thanh.
    (ĐTCK-online) "Việc BVSC, tổ chức có liên quan đến ông Võ Hữu Tuấn, thành viên HĐQT của HSG công bố lặp đi lặp lại trong một thời gian ngắn các thông tin đăng ký bán, rồi lại chưa bán cùng một lượng cổ phiếu HSG với lý do không thuyết phục đã làm NĐT hoang mang, giảm sút lòng tin vào cổ phiếu HSG, gây tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu HSG".

    Một cổ đông của CTCP Tập đoàn Hoa Sen (HSG) đã bức xúc khi bày tỏ quan điểm về việc công bố thông tin bán hơn 400.00 cổ phiếu HSG của CTCK Bảo Việt (BVSC).




    Tại ĐHCĐ bất thường của HSG diễn ra sáng ngày 3/10, 122 cổ đông nắm giữ 13,6 triệu cổ phiếu HSG, chiếm tỷ lệ 23,9% số cổ phiếu đang lưu hành của HSG, đã ký bản kiến nghị xem xét miễn nhiệm chức danh thành viên HĐQT của ông Võ Hữu Tuấn.

    Lý do chính nhóm cổ đông này đưa ra là BVSC do ông Tuấn làm đại diện phần vốn góp ở HSG đã 7 lần công bố thông tin liên quan đến việc bán hơn 400.000 cổ phiếu HSG rồi lại không bán được trong vòng hơn 6 tháng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý cổ đông nhỏ. Trong khi đó, BVSC không chỉ là cổ đông nội bộ cử đại diện tham gia vào HĐQT, Ban kiểm soát của Hoa Sen, mà còn là đơn vị tư vấn niêm yết cho tập đoàn này.

    Đại diện cho nhóm cổ đông gửi đơn kiến nghị miễn nhiệm ông Tuấn, ông Bùi Quốc Cường dẫn chứng: lần 1 (ngày 30/3/2009), BVSC đăng ký bán toàn bộ 406.350 cổ phiếu HSG đang nắm giữ từ ngày 1/4 đến 29/4/2009 để tái cơ cấu danh mục.

    Lần 2 (ngày 26/5/2009), BVSC công bố chưa bán 406.350 cổ phiếu HSG do mức giá chưa phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu danh mục (giá cổ phiếu HSG ngày 1/4 là 11.600 đồng/CP, ngày 29/4 là 16.100 đồng/CP).

    Lần 3, cũng trong ngày 26/5/2009, BVSC lại đăng ký bán 406.350 cổ phiếu HSG đang nắm giữ từ ngày 28/5/2009 đến 21/8/2009 để tái cơ cấu danh mục.

    Lần 4 (ngày 25/8/2009), công bố chưa bán 406.350 cổ phiếu HSG do mức giá thị trường chưa phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu danh mục (giá cổ phiếu HSG ngày 25/8 là 45.700 đồng/CP).

    Lần 5 (ngày 27/8/2009), BVSC công bố bán 5.000 cổ phiếu HSG sửa lỗi giao dịch.

    Lần 6 (ngày 11/9/2009), BVSC đăng ký bán toàn bộ 401.350 cổ phiếu từ ngày 14/9/2009 đến 10/12/2009 để tái cơ cấu danh mục theo phương thức bán thỏa thuận cho đối tác, phần cổ phiếu lẻ còn lại giao dịch trên thị trường.

    Lần 7 (ngày 16/9/2009), BVSC công bố thay đổi phương thức giao dịch từ bán thỏa thuận cho đối tác, sang phương thức khớp lệnh và thỏa thuận trên thị trường.

    Ông Cường bày tỏ quan điểm: Việc BVSC, tổ chức có liên quan đến ông Võ Hữu Tuấn, thành viên HĐQT của HSG công bố lặp đi lặp lại trong một thời gian ngắn các thông tin đăng ký bán, rồi lại chưa bán cùng một lượng cổ phiếu HSG với lý do không thuyết phục đã làm NĐT hoang mang, giảm sút lòng tin vào cổ phiếu HSG, gây tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu HSG, nhất là thời gian vừa qua TTCK có những phiên điều chỉnh mạnh. Theo ông Cường, với tư cách là đơn vị tư vấn niêm yết cho HSG, nhưng BVSC chỉ đặt lợi ích của mình lên trên mà không tính đến lợi ích của các cổ đông khác.

    So với khối lượng giao dịch bình quân của HSG trong thời gian gần đây, thì số lượng hơn 400.000 cổ phiếu HSG mà BVSC dự định bán ra không lớn, nhưng rõ ràng mỗi khi một cổ đông nội bộ, thành viên HĐQT, Ban kiểm soát đăng ký bán thì đều khiến các cổ đông bình thường đặt ra câu hỏi với công ty đó. Một cổ đông sở hữu 300.000 cổ phiếu HSG nói: "Tôi chưa thấy thành viên nào công bố thông tin nhiều lần như thế chỉ để bán mấy trăm nghìn cổ phiếu".

    "Chúng tôi được biết, một lần BVSC đăng ký bán cổ phiếu HSG thì có một cổ đông lớn muốn mua thỏa thuận toàn bộ cổ phiếu, không để việc bán ra của BVSC làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu HSG, nhưng BVSC đã từ chối", ông Cường cho biết.



    Bản kiến nghị của một số cổ đông về việc miễn nhiệm chức danh thành viên HĐQT của ông Tuấn



    Theo tìm hiểu của phóng viên ĐTCK, trong lần BVSC công bố bán gần đây, một nhóm cổ đông đã đề nghị mua thỏa thuận toàn bộ với giá 60.000 đồng/CP để tránh ảnh hưởng đến tâm lý cổ đông nhỏ lẻ, nhưng BVSC cũng không chấp thuận, trong khi giá đóng cửa cổ phiếu HSG ngày hôm đó là 60.500 đồng/CP.

    Theo thông lệ trên thị trường, khi một tổ chức thoái vốn khỏi một công ty, họ thường ưu tiên giao dịch thỏa thuận để tránh ảnh hưởng đến tâm lý cổ đông. Các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp có thể phân tích đánh giá để biết bán giá nào là phù hợp. Trong trường hợp bán cổ phiếu theo hình thức khớp lệnh trên thị trường thì việc bán cũng cần khéo léo, tránh đè giá cổ phiếu xuống.

    BVSC vừa là đơn vị tư vấn niêm yết, vừa có người tham gia thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của HSG, lại có bộ phận phân tích cổ phiếu, bộ phận tự doanh, nên hơn ai hết phải là đơn vị hiểu rõ tình hình và giá trị thực cổ phiếu HSG.

    Việc không bán thỏa thuận giá 60.000 đồng để bán trên thị trường giá 63.000 đồng hay 64.000 đồng/CP có thể giúp BVSC tăng thêm một chút lợi nhuận từ việc bán hơn 400.000 cổ phiếu, nhưng rõ ràng đây không phải là cách thức mà các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp ưu tiên thực hiện. Các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp thường xác định giá mục tiêu và ưu tiên tìm một đối tác khác mua cổ phiếu theo phương thức thỏa thuận để thoái vốn, tránh làm ảnh hưởng đến tâm lý thị trường.

    Lãnh đạo của một quỹ đầu tư trong nước nhận xét, thời gian qua chuyện công bố bán rồi không bán, mua rồi không mua của cổ đông nội bộ công ty niêm yết trên thị trường khá nhiều. Quyết định mua - bán của cổ đông nội bộ có khả năng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nên thông tin mua - bán của họ có thể tạo cơ hội để một nhóm NĐT khác mua vào hay bán ra cổ phiếu đó.

    Còn đối với Tập đoàn Hoa Sen, ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT Hoa Sen không bình luận gì về vấn đề này. Tuy nhiên, HĐQT HSG đã đưa vào chương trình ĐHCĐ bất thường nội dung bãi nhiệm ông Võ Hữu Tuấn, thành viên HĐQT và ông Võ Thành Trung, thành viên Ban kiểm soát, người có liên quan BVSC để "BVSC nếu có mua bán cổ phiếu HSG sau này khỏi phải công bố thông tin". Nội dung này được ĐHCĐ thông qua với tỷ lệ 100%. Trước đó, sau khi BVSC bán hết cổ phiếu HSG, ông Tuấn và ông Trung cũng đã có đơn xin từ nhiệm vị trí thành viên HĐQT và thành viên Ban kiểm soát của Hoa Sen.

    Như vậy, sau Đại hội trên, mối "lương duyên" của Bảo Việt và Hoa Sen đã kết thúc. Tuy nhiên, điều gây nhiều băn khoăn không chỉ với cổ đông HSG mà với nhiều NĐT là câu hỏi vì sao Bảo Việt - một công ty chứng khoán uy tín tại Việt Nam - lại lặp đi lặp lại thông tin bán cổ phiếu HSG như trên? Một lý giải hợp lý cho câu chuyện này là điều dư luận đang chờ đợi từ lãnh đạo công ty này.
  18. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    PHÍA SAU VƯỢT KẾ HOẠNH LỢI NHUẬN


    Sau 3 quý, nhiều doanh nghiệp đã vượt xa kế hoạch lợi nhuận cả năm. Phía sau kết quả đó là những điểm cần lưu ý.



    Mới chỉ kết thúc tháng 9 vài ngày, một loạt doanh nghiệp niêm yết đã công bố kết quả kinh doanh cập nhật cả 3 quý đầu năm. Có thể thấy những doanh nghiệp đã công bố “đương nhiên” có những con số vượt trội.



    Nhưng còn quá sớm để khẳng định một xu thế lạc quan chung. Nhưng cũng đủ để thấy có những điểm chung nổi bật trong một năm nhiều biến động.



    Hiệu ứng vượt xa kế hoạch



    Không chờ đến hết quý 3, ngay từ đầu tháng 8 một loạt doanh nghiệp trên sàn niêm yết đã rục rịch tổ chức lấy ý kiến cổ đông để điều chỉnh kế hoạch kinh doanh. Nguyên do, thực tế đạt được vượt quá xa với dự tính đặt ra từ đầu năm.



    Đến ngày 5/9, trong số những trường hợp đã công bố thông tin ban đầu, CTCP Cao su Đà Nẵng (DRC - sàn HOSE) đang giữ kỷ lục về sự vượt trội đó. 9 tháng đầu năm, lợi nhuận của công ty này ước lên tới 280 tỷ đồng, tương đương 538,46% kế hoạch. Điều này cũng lý giải vì sao giá cổ phiếu DRC có chặng tốc hành thuộc nhóm nóng nhất trên sàn tháng qua.



    Một số doanh nghiệp niêm yết khác cũng có những tỷ lệ thực hiện kế hoạch cả năm ấn tượng. Như với CTCP Cơ điện lạnh (REE), chỉ sau 8 tháng lợi nhuận trước thuế đã là 348,95 tỷ đồng, đạt tới 139,58% kế hoạch năm 2009 (250 tỷ đồng); CTCP Thủy sản Bến Tre - Aquatex BenTre (ABT) có lợi nhuận sau thuế 9 tháng là 54 tỷ đồng, bằng 150% kế hoạch lợi nhuận cả năm; CTCP Nhựa Đà Nẵng (DPC) cũng thông báo đã đạt 145% kế hoạch lợi nhuận năm sau 9 tháng và đang hướng tới mức 160%…



    Nhiều trường hợp khác cũng đã và đang lấy ý kiến cổ đông để điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận khi đã vượt từ 40% đến trên 80%. Hay như trường hợp của Hoàng Anh Gia Lai (HAGL), ngày 5/10, lần thứ hai trong năm việc tăng kế hoạch lợi nhuận được đưa ra đại hội cổ đông…


    Điểm chung bước đầu cho thấy kết quả lợi nhuận vượt trội đều có ở nhóm doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, có hoạt động đầu tư tài chính mạnh, lĩnh vực bất động sản và đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu một số ngành hàng như vật liệu xây dựng, nhựa, cao su...



    Phía sau những con số



    Khi trả lời phóng viên tuần qua, ông Nguyễn Văn Sự, Tổng giám đốc HAGL, giải thích rằng, việc hai lần điều chỉnh kế hoạch kinh doanh là do những chuyển biến thuận lợi của thực tế, vượt xa những dự báo và kế hoạch đặt ra từ đầu năm.



    “HAGL lập kế hoạch cho năm 2009 vào những tháng cuối năm 2008. Trong khoảng thời gian đó, thị trường bất động sản ở Việt Nam gần như bị tê liệt, rất ít giao dịch. Chúng tôi đã rất thận trọng khi lập kế hoạch cho năm 2009. Tuy nhiên, tình hình kinh doanh trong năm 2009 của chúng tôi đã diễn ra rất thuận lợi, tốt hơn nhiều so với dự kiến”, ông Sự nói.



    Tổng giám đốc Ngân hàng An Bình, ông Nguyễn Hùng Mạnh cũng cho rằng, với riêng lĩnh vực ngân hàng tài chính, do xây dựng từ năm 2008 nhiều khó khăn, chưa dự báo được rõ ràng về tình hình năm 2009 nên các kế hoạch kinh doanh ban đầu đưa ra đều rất thận trọng, và nay vượt cũng là điều bình thường. Đây cũng là điểm chung dễ thấy ở nhiều doanh nghiệp ngành khác.



    Trên sàn niêm yết, đỉnh điểm nóng sốt về giá cổ phiếu vừa qua thuộc về nhóm bất động sản, xây dựng, vật liệu xây dựng hay cao su… Dễ hiểu khi những nhóm này đang có kết quả kinh doanh thuận lợi từ sự hồi phục của thị trường bất động sản, từ hoạt động xuất khẩu. Đơn cử như với doanh nghiệp xuất khẩu cao su, đầu năm giá cao su chỉ quanh 1.300 USD/tấn, nay đã lên đến 2.000 USD/tấn. Hay ở thị trường bất động sản, đầu năm ít ai “ngờ” sự hồi phục lại nhanh như vậy…



    Trong những dữ liệu đã công bố, có một điểm mà một số chuyên gia lưu ý: Đang có hiện tượng khá phổ biến là lợi nhuận của doanh nghiệp tăng cao hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng doanh thu. Điều này có thể thấy ở những trường hợp như Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIG), 9 tháng ước doanh thu chỉ đạt 770 tỷ đồng, bằng 64,17% so kế hoạch năm, nhưng lợi nhuận sau thuế ước đạt tới 388 tỷ đồng, đã vượt 17,8% so với kế hoạch năm; hay tại REE, 8 tháng đầu năm doanh thu mới đạt đạt 56,85% kế hoạch năm, nhưng lợi nhuận trước thuế đã lên tới 139,58%; hay tại hầu hết những trường hợp đã công bố thông tin nói trên.



    Theo phân tích của ông Nguyễn Thanh Hà, Giám đốc Phân tích Kinh tế, CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI), lợi nhuận tăng cao hơn nhiều so với tăng trưởng doanh thu là điều kiện cần để có được tăng trưởng bền vững về lợi nhuận. Và điều này chủ yếu do doanh nghiệp giảm chi phí nguyên liệu thấp do tác động của khủng hoảng và hưởng lợi từ vay được vốn lưu động với lãi suất thấp và ưu đãi. Dự kiến phân tích này của ông Hà cũng sẽ xuất hiện nhiều trong các báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết sắp tới.



    “Thêm vào đó, khoản hoàn nhập dự phòng tài chính gắn với biến động mạnh của thị trường chứng khoán cũng chiếm một tỷ trong đáng kể trung bình 10 - 15% với các doanh nghiệp niêm yết và tỷ lệ cao hơn với các doanh nghiệp không chuyên đầu tư tài chính lớn trong năm 2007 - 2008 (có doanh nghiệp chiếm từ 50 - 100%)”, ông Hà nhận định.



    Có thể thấy, không phải đến thời điểm này, mà ngay từ kết quả kinh doanh quý 2/2009, lợi nhuận tăng cao từ hoàn nhập dự phòng tài chính đã thể hiện rõ trong kết quả của nhiều doanh nghiệp niêm yết. Điều này được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi “bóc tách” để đánh giá đúng hoạt động sản xuất, kinh doanh chính của mỗi doanh nghiệp.



    Tuy nhiên, dự báo mà chuyên gia của SSI đưa ra là các nhân tố nói trên (chi phí nguyên liệu thấp, hưởng lợi từ hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế, hoàn nhập dự phòng) khó có thể kéo dài một cách vững chắc với doanh nghiệp trong thời gian tới, khi mà mặt bằng giá nguyên liệu đầu vào mới đã hình thành và các chính sách tiền tệ đang và sẽ giảm dần sự nới lỏng…



    Nhưng, nắm cơ hội, có lợi nhuận cao, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện và nguồn lực để tranh thủ gia cố nền móng của mình trước khi bước vào thời kỳ dự báo không còn những thuận lợi đó.



    Liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, một điểm cần được chú ý phía sau những con số lợi nhuận là việc trích lập và hoàn nhập dự phòng. Nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động này đã có hoàn nhập và bù đắp cho lợi nhuận thời gian qua đối với chứng khoán niêm yết. Nhưng, với những khoản đầu tư chứng khoán chưa niêm yết (trên OTC), do chưa có quy định về việc xác định giá trị của chứng khoán chưa niêm yết nên nhiều trường hợp chưa trích lập dự phòng cần thiết và vẫn ở diện ngoại trừ trên báo cáo tài chính.



    Nếu việc quy định trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán chưa niêm yết rõ ràng, doanh nghiệp trích lập đầy đủ, hẳn sẽ có những ảnh hưởng đáng lưu ý. Tất nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có danh mục này.




    Theo VNE
  19. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    ĐTCK-online) Trong tháng 10 thị trường sẽ không có sự giảm sâu do được hỗ trợ bởi những thông tin tốt từ nền kinh tế. Thị trường trong tháng 10 sẽ đi vào giai đoạn tích lũy và chờ đợi tiếp kết quả kinh doanh của DN.

    >> Tháng 10 kéo co

    Phiên giao dịch ngày 1/10, VN-Index có phiên điều chỉnh mạnh (trên 10 điểm). Đây là phiên điều chỉnh kỹ thuật sau một thời gian dài tăng điểm, nhưng cũng phản ánh tâm lý của NĐT trước thông tin về gói kích cầu thứ 2 có thể không được đưa ra.

    Việc đưa ra gói kích cầu thứ 2 có thể mang lại những hiệu ứng tốt trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn lại gây ra áp lực về lạm phát. Trên thế giới, một số nước đã bắt đầu xem xét thu hồi nguồn tiền kích cầu khi nền kinh tế bước qua giai đoạn khủng hoảng và có dấu hiệu tích cực. Việt Nam mặc dù có lịch sử chống lạm phát khá tốt, nhưng trước tác động được đánh giá là khá lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, các biện pháp ổn định kinh tế luôn cần sự thận trọng hơn.

    Một điểm đáng chú ý trên thị trường vừa qua là khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi thì NĐT nước mua ròng rất nhiều, nhưng gần đây, đối tượng này lại bán ròng để chốt lời và thoái vốn. Tuy nhiên, hiện tại NĐT cá nhân và tổ chức trong nước đã đóng vai trò chủ đạo trên TTCK, chiếm đến 80 - 90% giá trị giao dịch toàn thị trường. Do đó, việc bán ra của NĐT nước ngoài không gây ảnh hưởng nhiều đến tâm lý và diễn biến giao dịch.

    TTCK là thị trường của kỳ vọng, luôn đi trước và phản ánh kỳ vọng của NĐT về sự tăng trưởng của DN, của GDP. Tính từ tháng 2/2009 (khi VN-Index ở mức 235 điểm) đến nay, có không ít cổ phiếu đã tăng giá trên 5 lần. Do điều chỉnh sâu, cổ phiếu bị đánh giá thấp, bây giờ tăng trưởng mạnh nên nhiều người cảm giác giá chứng khoán tăng nóng. Theo tôi, sự thực không phải như vậy. Việc thị trường có sự điều chỉnh tăng như hiện nay là điều bình thường.

    Hiện nay, kết quả kinh doanh của quý III của nhiều DN đã được thể hiện vào giá cổ phiếu. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, trong tháng 10 thị trường sẽ không có sự giảm sâu do được hỗ trợ bởi những thông tin tốt từ nền kinh tế. Thị trường trong tháng 10 sẽ đi vào giai đoạn tích lũy và chờ đợi tiếp kết quả kinh doanh của DN. Nếu DN làm ăn tốt và thông tin vĩ mô khả quan thì có thể thị trường có thể tiếp tục đi lên. Chúng tôi cho rằng, đến cuối năm, chỉ số VN-Index sẽ vào khoảng 600 điểm +/-5%.




    Hiền Linh
  20. DuLi.kx06
    Offline

    DuLi.kx06 Thành viên danh dự

    Tham gia:
    13/06/09
    Bài viết:
    325
    Đã được thích:
    59
    Điểm thành tích:
    28
    Nên mua cổ phiếu ngành nào trong tháng 10?



    Tâm lý chung của nhà đầu tư hiện tại là lạc quan khi nhìn về 3 tháng cuối năm do nhiều doanh nghiệp niêm yết công bố kết quả kinh doanh khả quan và tình hình kinh tế vĩ mô ổn định. Tuy nhiên, thị trường đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng khá ấn tượng và thiết lập một mặt bằng giá mới.

    Do đó, để có thể vượt qua ngưỡng 580 điểm vững chắc thị trường có thể phải trải qua nhiều phiên điều chỉnh để tích lũy và chờ thêm các dòng tiền mới chảy vào, qua đó giúp thị trường bứt phá qua ngưỡng này.

    Người viết cho rằng, những yếu tố có thể là rào cản cho thị trường chứng khoán tăng điểm trong tháng 10 gồm:

    Một là, mức độ tăng của thị trường nhanh hơn mức độ phục hồi của nền kinh tế.

    Hai là, thị trường sau một chu kỳ tăng điểm dài hạn sẽ phải hứng chịu áp lực chốt lời của các nhà đầu tư, nhất là đối với các mã đã tăng nóng.

    Ba là, nhà đầu tư nước ngoài có thể tiếp tục chốt lời nếu thị trường tiếp tục tăng mạnh.

    Bốn là, tín dụng chứng khoán đã quá cao, tiền đầu tư dành cho chứng khoán đã nhiều hơn cả lúc thị trường tăng nóng trong năm 2007, điều này thể hiện qua việc dòng tiền vào thị trường.

    Năm là, thị trường đang lạm dụng thông tin chia tách cổ phiếu và các khoản lợi nhuận đột biến từ hoàn nhập dự phòng để đẩy giá cổ phiếu tăng cao.

    Sáu là, việc phục hồi của nền kinh tế vẫn cần nhiều hỗ trợ từ các gói kích cầu của Chính phủ và nền kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì tăng trưởng xuất khẩu.

    Bảy là, vẫn chưa có thêm nhiều nhà đầu tư tổ chức mới tham gia thị trường. Dòng tiền của các nhà đầu tư tổ chức mang tính dài hạn hơn nhiều so với dòng tiền của nhà đầu tư cá nhân. Do đó, sự xuất hiện của nhiều nhà đầu tư tổ chức sẽ giúp thị trường tăng trưởng bền vững hơn là tăng nóng.



    Tuy vậy, xu hướng tăng của thị trường chứng khoán Việt Nam được hỗ trợ bởi 6 yếu tố sau:



    Thứ nhất, kinh tế thế giới đã thoát khỏi đáy của cuộc khủng hoảng tài chính và bắt đầu giai đoạn hồi phục. Ngân hàng Trung ương của châu Âu và Mỹ vẫn cho thấy xu hướng duy trì lãi suất huy động ở mức thấp gần bằng 0%. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng tuyên bố giữ lãi suất cơ bản ở mức 7% đến cuối năm để duy trì đà phục hồi của nền kinh tế.



    Thứ hai, Việt Nam được đánh giá là sẽ có tốc độ hồi phục nhanh hơn các nước trong khu vực nhờ các ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn như may mặc, thủy sản, khoáng sản và vật liệu cơ bản… đều là những ngành cơ bản và sẽ sớm hồi phục khi các thị trường tiêu thụ chính ở Mỹ, châu Âu hồi phục.



    Thứ ba, gói kích cầu thứ 2 rất có thể sẽ được triển khai ngay khi gói thứ 1 giải ngân xong.



    Thứ tư, thuế thu nhập đối với chuyển nhượng dự án bất động sản sẽ có hiệu lực kể từ cuối tháng 9, do vậy, chưa có dấu hiệu cho thấy luồng vốn sẽ chảy từ kênh chứng khoán vào kênh đầu tư bất động sản.



    Thứ năm, giá vàng hiện đã gần chạm đỉnh, do đó khó có thể tăng thêm nữa trong khi giá của nhiều cổ phiếu vẫn còn ở mức tương đối nếu so sánh với khả năng kinh doanh và sinh lời của doanh nghiệp.



    Thứ sáu, tháng 10 sẽ ghi nhận nhiều cổ phiếu niêm yết mới kỳ vọng có thể tạo ra sự lôi kéo cho cổ phiếu thuộc các nhóm này, qua đó thúc đẩy thị trường đi lên. Trong đó đáng chú ý là 880 triệu cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Eximbank (mã EIB) và hơn 60 triệu cổ phiếu của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa (mã BTP), dự kiến chào sàn trong tháng 10.



    Người viết cho rằng, tháng 10 sẽ là một tháng có nhiều biến động với xu hướng tăng giảm xen kẽ. Tuy vậy, các nhà đầu tư nên tận dụng cơ hội để tích lũy cổ phiếu thuộc ngành ngân hàng, cảng biển, thủy sản và vật liệu xây dựng do tiềm năng tăng trưởng của các ngành này khi được hưởng lợi từ các gói kích cầu và sự hồi phục của nền kinh tế.




    Theo VNE
Mods: vantiep

Chia sẻ trang này

Đang xem chủ đề (Thành viên: 0, Khách: 0)

Thành viên đang trực tuyến

Tổng: 129 (Thành viên: 0, Khách: 121, Robots: 8)